39. Sớ Cúng Con Trai I
(Đản Kỳ Bách Tuế)
Nguyên văn:
伏以
但期百歲、頃刻辭陽世而歸、年紀幼冲、須臾徃九泉之路。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。言念、孺子初生、家緒相傳得繼、仁親可望、終身所壽成人、短命非常、早入幽都界畔、悲哀痛切、恆懷暗想離情、特展修崇、高登覺路。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、慈王洞鑒、
大覺遙觀、接引亡靈脫化、免其夙刼之冤、延扶眷屬康寧、錫以來生之福。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Đản kỳ bách tuế, khoảnh khắc từ dương thế chi quy; niên kỷ ấu xung, tu du vãng Cửu Tuyền1 chi lộ.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Ngôn niệm:2 Nhụ tử sơ sanh, gia tự tương truyền đắc kế; nhân thân khả vọng, chung thân sở thọ thành nhân; đoản mạng phi thường, tảo nhập u đô giới bạn; bi ai thống thiết, hằng hoài ám tưởng ly tình; đặc triển tu sùng, cao đăng giác lộ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Từ vương động giám, Đại Giác diêu quan; tiếp dẫn vong linh thoát hóa, miễn kỳ túc kiếp chi oan; diên phò quyến thuộc khang ninh, tích dĩ lai sanh chi phước. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- được trăm tuổi, khoảnh khắc lìa dương thế mà đi; tuổi còn trẻ trung, chớp mắt về đường xa Chín Suối.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Nép nghĩ: Con trẻ mới sanh, nối dõi gia đường kế nghiệp; thân sinh trông đợi, suốt đời sống thọ thành nhân; mạng ngắn khác thường, sớm nhập cõi u vắng vẻ; buồn thương xót nhớ, khôn nguôi nhớ tưởng chút tình; dâng cúng nguyện cầu, sớm lên bờ giác. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Vua từ chứng giám, Đại Giác nhìn xa; tiếp dẫn vong linh siêu thoát, miễn được đời trước oan khiên; phò hộ quyến thuộc khang ninh, tích tụ tương lai phước quả. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Cửu Tuyền (九泉): chín suối, nơi mai táng người chết, là tên gọi khác của Huỳnh Tuyền (黃泉), Âm Ty (陰司) hay Địa Ngục (地獄). Từ này vốn xuất xứ từ bài thơ Thất Ai (七哀) của Nguyễn Vũ (阮瑀, ?-212) nhà Hán: “Minh minh Cửu Tuyền thất, man man trường dạ đài(冥冥九泉室,漫漫長夜台, mịt mờ nhà Cửu Tuyền, mênh mang đài đêm trường).” Hay như trong Dương Bình Vương Truyện (陽平王傳) của Ngụy Thư (魏書) có câu: “Nhược vi tử quỷ, vĩnh khoáng thiên nhan, Cửu Tuyền chi hạ, thật thâm trùng hận (若爲死鬼、永曠天顏、九泉之下、實深重恨, nếu làm quỷ chết, mãi xa mặt trời, dưới cõi Chín Suối, thật sâu thẳm hận).” Trong Truyện Kiều cũng có câu: “Trên Tam Đảo dưới Cửu Tuyền, tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.” Về con số 9, theo quan niệm của cổ đại Trung Quốc, nó biểu thị ý nghĩa nhiều, cực lớn; như sách y thuật cổ Tố Vấn (素問) có giải thích rằng: “Thiên địa chi chí số, thỉ ư nhất, chung ư cửu yên (天地之至數、始於一、終於九焉, con số tột cùng của trời đất khởi đầu bằng số 1 và kết thúc bằng số 9).” Quan niệm về Cửu Tuyền vốn phát xuất từ kinh nghiệm đào giếng của người xưa. Khi đào sâu xuống lòng đất, người ta phát hiện dòng nước suối, nước chảy ra từ lớp đất vàng, thường có màu vàng; cho nên, cổ nhân thường gọi tầng sâu thẳm của lòng đất là Huỳnh Tuyền (Suối Vàng). Thế giới của người chết thường được xem như là dưới Âm Tào Địa Phủ (陰曹地府), trong lòng đất sâu thẳm; từ đó, người ta thêm số 9 vào chữ tuyền (泉) để chỉ một nơi sâu thẳm như Âm Tào Địa Phủ và cũng là nơi yên nghĩ của người chết.
- Phần nầy có thể thay thế vào đoạn văn như sau: “Ai tai ! Sanh thành nghĩa trọng, mẫu tử tình thâm, đản ước cửu niên uất mậu chi tùng; ta hồ nhất đán thu điêu ngô diệp; thủ túc chiết đoạn, cốt nhục phân ly; thống Tây sơn đạp đạp vô tôn, sầu Bắc Sở minh minh hà tại (哀哉、生成義重、母子情深、但約久年鬱茂枝松、嗟乎一旦、秋彫梧葉、手足折斷、骨肉分離、痛西山沓沓無孫、愁北楚冥冥何在, Xót thay ! Sanh thành nghĩa nặng, con mẹ tình sâu; cùng hẹn lâu năm tươi tốt cành tùng, than ôi một sớm thu về lá rụng; chân tay đứt đoạn, cốt nhục chia lìa; đau núi Tây mãi mãi cháu không, buồn Bắc Sở mịt mờ nào chốn).”